Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh. Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã khách quan nhình nhận những hạn chế còn tồn tại, đó là chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu đội ngũ có trình độ chuyên môn giỏi trong nhiều lĩnh vực, thiếu cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề. Khả năng tự tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động còn nhiều hạn chế.
Đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng bộ, số người có trình độ sau đại học còn ít; trình độ ngoại ngữ, tin học của hầu hết đội ngũ cán bộ, công chức và người lao động còn rất thấp. Đạo đức, tác phong, kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức và người lao động còn bất cập so với yêu cầu, nhiệm vụ…Bên cạnh đó Tỉnh uỷ cũng thẳng thắn thừa nhận nguyên nhân cơ bản của tồn tại trên là một số cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể chưa nhận thức đầy đủ về phát triển nguồn nhân lực, công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp cả về mhận thức và tổ chức thực hiện. Hệ thống giáo dục và đào tạo phát triển nhanh, trong khi điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, ngân sách, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu. Qui hoạch hệ thống cơ sở giáo dục, đào tạo còn chậm; đào tạo chưa gắn với nhu cầu sử dụng. Việc huy động các nguồn lực cho đầu tư, phát triển nguồn nhân lực còn hạn chế…
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và những hạn chế, tồn tại. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV đã tập trung thảo luận và ra Nghị quyết về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Trong nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu phát triển nguồn nhân lực đến năm 2010, 2015 và năm 2020. Đi kèm với những chỉ tiêu cụ thể là 5 nhiệm vụ và giải pháp để thực hiện. Thứ nhất, trong nhiệm vụ tiếp tục phát triển về qui mô, nâng cao chất lượng giáo dục từ bậc mầm non đến phổ thông. Nghị quyết đề ra yêu cầu hoàn chỉnh qui hoạch hệ thống các trường phổ thông, phát triển mạnh các trường mầm non tư thục ở thành phố, thị xã, vùng kinh tế phát triển; chuyển đổi các trường THPT bán công theo quy định của Luật giáo dục… Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt chất lượng dạy và học tiếng nước ngoài, tin học, giáo dục tác phong, lối sống, kỷ luật học tập, lao động. Xây dựng hệ thống các trường chất lượng cao ở các bậc học. Đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; xây dựng đội ngũ giáo viên đủ, đồng bộ, với chất lượng cao.
Thứ hai, đối với việc tập trung nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao. Nghị quyết đề ra việc bổ sung qui hoạch hệ thống các trường đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các trường đại học, cao đẳng tư thục thành lập trên cơ sở coi trọng chất lượng và gắn với thị trường lao động. Tập trung đầu tư mạnh cho các trường cao đẳng, trung học trọng điểm, có chính sách hỗ trợ các trường do trung ương quản lý đóng trên địa bàn tỉnh. Chủ động đào tạo và thu hút nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao ở các lĩnh vực, các ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp, dịch vụ như: cơ khí chế tạo máy, vật liệu xây dựng, kỹ thuật điện tử, tin học phần mềm, chế biến nông sản thực phẩm, cán bộ y tế, giáo dục, cán bộ quản trị kinh doanh, nhân viên kỹ thuật nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn viên du lịch…
Thứ ba, trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị chuẩn về trình độ đào tạo, có năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ theo đúng các tiêu chuẩn và qui trình, đảm bảo chuẩn về đào tạo, năng lực thực tế trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Đẩy nhanh tiến độ chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ, công chức cấp xã và cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành. Uu tiên lựa chọn cán bộ trẻ có phẩm chất, năng lực để đào tạo sau đại học và đi học tập ở nước ngoài.
Nhiệm vụ thứ tư, tiếp tục xây dựng, bổ sung cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh việc thực hiện đúng các quy định của trung ương về chế độ chính sách đào tạo, bồi dưỡng. Vĩnh Phúc nghiên cứu xây dựng một số chế độ, chính sách của tỉnh về phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH,HĐH như: chính sách hỗ trợ học sinh nghèo, miền núi, vùng khó khăn, các trường chuyên biệt, học sinh giỏi, giáo viên giỏi. Ban hành chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức; học sinh có năng khiếu đặc biệt đi học tập ở nước ngoài. Rà soát, bổ sung chính sách tạo môi trường và các điều kiện thuận lợi để thu hút những người có trình độ chuyên môn cao, cán bộ quản lý giỏi, các nghệ nhân đến làm việc tại tỉnh. Có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để người dân đi du học tự túc và về phục vụ tại địa phương.
Trong nhiệm vụ thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, quan tâm của toàn xã hội đối với phát triển nguồn nhân lực. Nghị quyết yêu cầu các cấp uỷ Đảng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết về phát triển nguồn nhân lực, coi đây là một nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, đề ra chương trình hành động cụ thể thực hiện nghị quyết có hiệu quả. Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; đẩy mạnh phân cấp quản lý, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục và đào tạo; xây dựng kế hoạch đào tạo sát nhu cầu của thị trường, gắn đào tạo với sử dụng lao động, Tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp và đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo. Động viên, khuyến khích mọi người tự học tập vươn lên, tạo sự chuyển biến nhận thức của người lao động từ yêu cầu bắt buộc học tập nâng cao trình độ thành nhu cầu tự học tập để cống hiến nhiều hơn cho xã hội, góp phần tích cực xây dựng xã hội học tập.
Để nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, tạo bước chuyển biến mới về nhận thức và hành động trong cán bộ và nhân dân về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Tỉnh uỷ thành lập Ban chỉ đạo thực hiện nghị quyết do đồng chí Phó bí thư thường trực Tỉnh uỷ làm trưởng ban, các thành viên gồm lãnh đạo UBND tỉnh, các ban của Đảng và các sở, ngành liên quan. Đảng đoàn HĐND tỉnh tiến hành rà soát hệ thống các chính sách về phát triển nguồn nhân lực để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với nghị quyết. Ban cán sự Đảng UBND tỉnh xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện nghị quyết. Ban tuyên giáo tỉnh uỷ chủ trì, phối hợp với các ban xây dựng Đảng giúp Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nghị quyết và định kỳ báo cáo với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ./.
Phạm Hồng Hải
Sở Nội vụ tỉnh Vĩnh Phúc
|
17/07/2008 |
|
|
|
Các tin đã đưa |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Về đầu trang
|
| | |