Hệ thống cảng biển quốc gia có vị trí là “đầu mối” giữa giao thông nội địa với giao thông hàng hải các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Vai trò, vị trí nói trên là yếu tố rất quan trọng, có tác dụng trực tiếp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thực tế trong hơn 10 năm đổi mới cho thấy hệ thống cảng biển Việt Nam liên tục phát triển, mức độ tăng trưởng về khối lượng hàng hoá, hành khách qua cảng năm sau đều cao hơn năm trước; kết cấu hạ tầng đã được đầu tư xây dựng tương đối đồng bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện tại, có gần 100 cảng, cầu cảng biển lớn, nhỏ do các doanh nghiệp thuộc các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp liên doanh khai thác. Trong năm 2002, có 104 triệu tấn hàng hoá các loại được thông qua, 285 ngàn lượt khách du lịch quốc tế và với trên 74 ngàn lượt tàu thuyền đến cảng biển Việt Nam. Trong 6 tháng đầu năm 2003 cũng tăng so với cùng kỳ năm trước, riêng hàng hoá đạt trên 57 triệu tấn.
Hoạt động của ngành hàng hải nói chung và hệ thống cảng biển quốc gia nói riêng có tác động mạnh đối với sự phát triển của tất cả các ngành, lĩnh vực thuộc nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là kinh tế đối ngoại. Song trên thực tế, công tác quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng biển được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau như; hàng hải, thương mại, hải quan, tài chính, môi trường, xuất nhập cảnh, bảo vệ thực vật, bảo vệ động vật và y tế. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật nói trên đều có nội dung điều chỉnh liên quan đến thủ tục hành chính tại cảng biển, do đó đã dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn và chưa phù hợp với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam dã ký kết hoặc gia nhập.
Việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành tại cảng biển cũng do nhiều cơ quan đảm nhiệm như: cảng vụ hàng hải, biên phòng cửa khẩu, hải quan cảng, kiểm dịch y tế, kiểm dịch động vật, kiểm định thực vật và các cơ quan chức năng khác thuộc các bộ, ngành và địa phương nơi có cảng.
Trước tiến trình phát triển, hội nhập quốc tế, hệ thống văn bản pháp luật và cách giải quyết thủ tục tại các cảng biển đã tỏ ra lạc hậu và có nhiều thiếu sót cần phải được khắc phục, đó là:
- Thủ tục còn gây khó khăn cho doanh nghiệp và nhân dân như địa điểm làm thủ tục còn phân tán, nhiều cơ quan, nhiều đoàn kiểm tra trên các tàu, giấy tờ khai báo quá nhiều:
+ Tàu đến cảng nộp 36 loại giấy tờ, xuất trình 27 loại giấy tờ
+ Tàu rời cảng nộp 17 loại giấy tờ, xuất trình 19 loại giấy tờ
+ Tàu vào cảng nộp 15 loại giấy tớ, xuất trình 13 loại giấy tờ
Thời gian làm thủ tục không thống nhất mà phải theo quy định riêng của mỗi cơ quan v.v…
- Gây trở ngại cho việc ứng dụng công nghệ thông tin;
- Khó khăn trong việc áp dụng các điều ước quốc tế.
Để khắc phục những bất cập đang cản trở quá trình phát triển, hội nhập thì việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại cảng biển ở Việt Nam là vấn đề hết sức cần thiết; đòi hỏi cần sớm được đổi mới. Bộ Giao thông vận tải đã xây dựng đề án thí điểm cải cách thủ tục hành chính tại các cảng biển khu vực thành phố Hồ Chí Minh và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho phép thí điểm tại Quyết định số 55/2002/QĐ-TTg ngày 23/4/2002.
|
29/09/2004 |
|
|
|
Các tin đã đưa |
|
|
|
|
|
|
|
Về đầu trang
|
|
|
HỖ TRỢ ÁP DỤNG |
Văn bản Quy phạm Pháp luật |
| | Tài liệu áp dụng |
| | Báo cáo |
| | Hỗ trợ thực hiện |
| | Thực tiễn quốc tế |
| | |
| | |