Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” ngày 22/10/2007 Tỉnh uỷ Lào Cai đã ban hành Chương trình số 42/CTr/TU “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” với nội dung chương trình như sau:
1. Cải cách thể chế.
1.1- Tập chung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xác định đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và doanh nghiệp.
Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc việc rá soát văn bản, rà soát các thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của ngành, địa phương mình để sửa đổi, loại bỏ các thủ tục hành chính dây phiền hà, cản trở công việc làm ăn của nhân dân và daonh nghiệp; những vấn đề vượt quá thẩm quyền báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định hoặc đề nghị UBND tỉnh kiến nghị với trung ương.
Công bố công khai các thủ tục (các loại giấy tờ, biểu mẫu) và quy trình giải quyết công việc, thời gian giải quyết, phí và lệ phí theo quy định để nhân dân biết và thực hiện thuận lợi.
1.2- Tiếp tục theo dõi các nhóm cơ chế chính sách nhằm khuyến khích phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh do UBND tỉnh đã ban hành; hàng năm tiến hành đánh giá lại hiệu quả của các nhóm cơ chế chính sách đó để điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh giai đoạn 2006 – 2010 và giai đoạn tiếp theo.
1.3- Thường xuyên theo dõi, kiểm tra về công tác cải cách hành chính theo cơ chế “Một cửa”, lựa chọn thực hiện thí điểm mô hình “Một cửa liên thông” để nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh, trước mắt tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh, các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công như bệnh viện, trường học.
2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.
2.1- Xây dựng các phương án thành lập, sáp nhập, giải thể về tổ chức bộ máy của các sở, ban ngành tỉnh, các phòng ban chuyên môn cấp huyện theo hướng dẫn của Trung ương, đồng thời tiếp tục rà soát, đánh giá các quyết định của UBND tỉnh ban hành về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy bên trong của các sở, ban, ngành; các đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh, giải quyết xong một số chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các sở, ngành tỉnh.
2.2- Xây dựng Đề án thực hiện công tác kiểm tra và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh trong việc thực hiện 7 chương trình công tác trọng tâm toàn khoá với 29 đề án, nghị quyết chuyên đề của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII.
2.3- Triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 144/2006/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động trong các cơ quan hành chính nhà nước.
4- Tiếp tục phân cấp mạnh và giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền cấp huyện, cấp xã, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
2.5- Tổ chức hợp lý chính quyền cấp huyện, xã, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị theo hướng dẫn của Trung ương..
3. Đổi mới nâng cao chất lượng cán bộ, công chức.
3.1 - Xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh công chức trong từng cơ quan của Nhà nước để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí sử dụng cán bộ, công chức
3.2- Làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch cán bộ công chức thông qua việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức. Xác định rõ những người không đủ tiêu chuẩn và thực hiện đầy đủ chính sách của Nhà nước đối với những người không đủ tiêu chuẩn phải đưa ra khỏi bộ máy hành chính.
3.3- Đổi mới chế độ tuyển dụng và quản lý cán bộ công chức. Tuyển dụng cán bộ, công chức phải căn cứ vào nhu cầu, vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức. Thông qua việc thi tuyển, sát hạch, kiểm tra để tuyển dụng cán bộ, công chức đủ phẩm chất năng lực vào làm việc trong bộ máy hành chính từ cấp tỉnh đến cấp xã.
Nghiên cứu xây dựng đề án thí điểm về thi tuyển đối với một số chức danh lãnh đạo gắn với chuyên môn, nghiệp vụ trong bộ máy hành chính nhà nước và các đơn vị sự nghiệp, lãnh đạo chính quyền cấp phường.
3.4- Đổi mới công tác quản lý biên chế.
- Đối với các cơ quan nhà nước: Trên cơ sở xây dựng chức danh, tiêu chuẩn, vị trí việc làm và cơ cấu công chức, từng cơ quan nhà nước rà soát lại đội ngũ công chức, đối với tiêu chuẩn để bố trí lại cho phù hợp. Tiếp tục thực hiện mạnh chế độ hợp đồng đối với một số loại việc trong các cơ quan nhà nước theo tinh thần Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ.
- Đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công: Căn cứ vào nhu cầu hoạt động thực tế để xác định số lượng các vị trí làm việc trong từng đơn vị sự nghiệp dịch vụ công. Thực hiện chế độ hợp đồng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công.
3.5- Thực hiện chính xác, kịp thời chính sách tiền lương và các chế độ khác đối với cán bộ, công chức. Nghiên cứu phương án xây dựng quỹ nhà công vụ đồng thời thực hiện đúng quy định của nhà nước về sử dụng nhà công vụ.
Triển khai thực hiện chính xác, kịp thời, có hiệu quả Nghị định 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế; tiếp tục rá soát, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức hành chính gắn với việc triển khai chính sách tinh giản biên chế của Chính phủ.
3.6- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Đổi mới phương thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành chính. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp. Thực hiện cơ chế đào tạo tiền công vụ và đào tạo bồi dưỡng trong công vụ theo định kỳ bắt buộc hàng năm; thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm.
Coi trọng công tác giáo dục đạo đức và phẩm chất chính trị cho đội ngũ cán bộ, công chức để nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ, niềm tự hào dân tộc và tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức.
3.7- Xây dựng chế độ trách nhiệm, chế độ tuyển chọn, chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức. Đổi mới quy trình và xây dựng quy chế đánh giá cán bộ, công chức.
4.- Cải cách tài chính công.
4.1- Phát huy vai trò của hội đồng nhân dân các cấp trong việc quyết định và giám sát việc thu chi ngân sách. Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, đồng thời phải đảm bảo tính thống nhất của thể chế; luật pháp về ngân sách nhà nước và vai trò chủ đạo của ngân sách Trung ương. Nâng cao tính minh bạch, dân chủ và công khai trong quản lý ngân sách nhà nước. Xây dựng thể chế giám sát tài chính đồng bộ và hiệu quả.
4.2- Thí điểm thực hiện cơ chế cấp phát ngân sách theo kết quả công việc đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, tạo thêm động lực đối với hoạt động của cơ quan hành chính, nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, khuyến khích, động viên cán bộ công chức làm việc tích cực, gắn việc hoàn thành nhiệm vụ với tiền lương, tiền thưởng.
4.3- Thực hiện cơ chế tổ chức và hoạt động (trong đó có cơ chế tài chính) đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cải cách tài chính công phục vụ cho chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá trong các ngành giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hoá, thể dục, thể thao. Phát huy trách nhiệm và tính sáng tạo, chủ động của các đơn vị này nhằm cung cấp các dịch vụ công ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đồng thời tạo động lực cho đội ngũ cán bộ, viên chức làm việc. Triển khai thực hiện cơ chế tài chính do nhà nước ban hành đối với đơn vị sự nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; thực hiện thí điểm cổ phần hoá một số đơn vị sự nghiệp công lập.
5- Hiện đại hoá nền hánh chính.
5.1- Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy hành chính, của cán bộ, công chức, đặc biệt là kỹ năng hành chính và áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan hành chính
5.2- Khẩn trương hoàn thiện các trụ sở công sở hợp khối tại khu đô thị mới Lào Cai – Cam Đường để sớm đưa vào hoạt động theo kế hoạch.
5.3- Từ nay đến năm 2010, khắc phục xong tình trạng một số xã chưa có trụ sở chính quyền hoặc có nhưng ở mức độ chưa đáp ứng được yêu cầu hoạt động của chính quyền cấp xã.
Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng nền hành chính của tỉnh Lào Cai dân chủ, trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả: Từng bước chuyển từ chức năng quản lý sang chức năng phục vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đến năm 2010, chính quyền của tỉnh cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - văn hoá – xã hội của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 – 2010 và các năm tiếp theo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai khoá XIII đã đề ra.
Nguyễn Văn Khánh
Sở Nội vụ Lào Cai
|
06/11/2007 |
Tệp đính kèm |
|
|
|
|
|
|
Các tin đã đưa |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Về đầu trang
|
| | |