 | | Từ kết quả khảo sát thực tiễn, chúng tôi đã có một số bài đăng trên Báo điện tử ĐCS Việt Nam trong các ngày 3/4; 7/4; và 14/4/2008, phản ánh về thực trạng cải cách hành chính ở TP. Hồ Chí Minh (các mục: Nội chính/trao đổi; và Cải cách hành chính/trao đổi). Bài viết này là phần cuối của loạt bài đó.
Trong các bài trước đã nêu khái quát về thực trạng tiến trình cải cách hành chính (CCHC) của TP. Hồ Chí Minh. Sau nhiều năm thực hiện CCHC, TP. Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản trong các lĩnh vực là “điểm nóng” của hoạt động kinh tế - xã hội như quản lý nhà đất, xây dựng, thu hút đầu tư,... từng bước xoá bỏ cơ chế “bao cấp”, “xin - cho”, làm thay đổi nếp nghĩ và thói quen trong quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, đưa hoạt động của các cơ quan chính quyền ngày càng gần dân hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn, góp phần làm thay đổi tư duy CCHC.
Nếu chỉ tính từ năm 2001 cho đến cuối năm 2007, Thành phố đã ban hành 1.390 văn bản quy phạm pháp luật nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước và tạo môi trường thông thoáng cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều thủ tục hành chính được chuẩn hóa, mẫu hóa, quy trình giải quyết công việc liên quan đến tổ chức và công dân rút ngắn được thời gian, giảm phiền hà cho công dân và doanh nghiệp. Cơ chế "một cửa" được thực hiện phổ biến, cơ chế "một cửa liên thông" đã hình thành và từng bước mở rộng, tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan hành chính. Kết quả thực hiện thí điểm về khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính; việc ứng dụng công nghệ thông tin; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO; cơ chế "một cửa" và mô hình "một cửa điện tử" đã được Chính phủ đánh giá là thành công và cho mở rộng thực hiện ở một số lĩnh vực trong phạm vi cả nước.
Kết quả công tác CCHC đã góp phần trực tiếp làm cho kinh tế TP. Hồ Chí Minh tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong 10 năm qua: Năm 1997 tăng 12,1%, năm 2006 tăng 12,2%, năm 2007 vừa qua tăng 12,5%; thu hút có hiệu quả đầu tư trong và ngoài nước, tạo môi trường thông thoáng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả. Đó cũng chính là những giải pháp nhằm phát huy nội lực và sức sáng tạo, năng động của nhân dân thành phố. Để tiếp tục phát huy lợi thế này, UBND thành phố đã quyết định phân công ủy quyền nhiệm vụ cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư giải quyết một số thủ tục thuộc chức năng quản lý nhà nước đối với các công ty nhà nước và các dự án đầu tư trên địa bàn thành phố. Nhờ các giải pháp trên đây đã tiếp tục thu hút mạnh thêm nhiều dự án đầu tư mới vào thành phố, nếu chỉ tính riêng các dự án có vốn FDI trong năm 2007 đã đạt tổng vốn là 2,5 tỉ USD, tăng 11,9% so với năm 2006. Từ đó tạo cơ sở giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo và từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội, góp phần nâng cao đời sống các tầng lớp dân cư, bộ mặt đô thị ngày càng được đổi mới.
Bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn tiến hành CCHC ở TP. Hồ Chí Minh có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
-Đổi mới về nhận thức đối với CCHC : Trước hết phải có sự đổi mới về nhận thức trong bộ máy chính quyền địa phương về CCHC, luôn coi CCHC là khâu đột phá và mở đường cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội; phải tôn trọng những đối tượng sử dụng các dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước cung ứng là “khách hàng” thực sự, do đó các hoạt động cung ứng dịch vụ công cần được bảo đảm để đáp ứng nhu cầu của “khách hàng”. Trong quá trình CCHC phải có nhữnh bước đi thích hợp, với những đột phá mới trong lĩnh vực mà tổ chức và công dân đang có nhu cầu bức xúc. Đây là nhận thức mới, được hình thành qua quá trình cải cách, được chính bộ máy hành chính tiếp nhận để điều chỉnh nguyên tắc hoạt động của mình.
- Về tổ chức và cán bộ : Để thực hiện có kết quả công cuộc CCHC, yếu tố quyết định hàng đầu chính là tổ chức bộ máy và cán bộ công chức, bởi vậy hệ thống bộ máy hành chính phải được tổ chức, sắp xếp hợp lý, gọn nhẹ, cán bộ công chức cần thường xuyên được đào tạo nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và thật sự tâm huyết với công việc, luôn xem nhu cầu của tổ chức và công dân như nhu cầu của chính mình.
- Phân định rành mạch giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng quản lý điều hành sản xuất - kinh doanh và hoạt động sự nghiệp.
Việc tách bạch các chức năng quản lý, trước hết tạo điều kiện cho các cơ quan hành chính nhà nước nâng cao hơn nữa năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước theo pháp luật, mặt khác, hạn chế tình trạng can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp.
- Đẩy mạnh phân công, phân cấp : Một nguyên tắc được đặt ra trong quá trình CCHC là việc gì mà cấp nào, ngành nào làm tốt thì cấp trên phân cấp hoặc uỷ quyền cho cấp đó, ngành đó làm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phải có sự đồng bộ cả về nhiệm vụ, thẩm quyền, nguồn lực và các điều kiện cần thiết để đơn vị nhận phân cấp chủ động tổ chức thực hiện, mặt khác phải phân định thật cụ thể chức năng, nhiệm vụ giữa các ngành, các cấp tránh chồng chéo hoặc bỏ sót việc, đồng thời cũng cần xác định rõ mối quan hệ trách nhiệm giữa các ngành, các cấp sau phân cấp, để tạo sự phối hợp đồng bộ liên thông trong triển khai thực hiện nhiệm vụ.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và phục vụnhân dân : Vấn đề thiết lập các hệ thống thông tin phục vụ quản lý hành chính nhà nước và cung cấp các dịch vụ cho tổ chức và công dân là một hướng đi đúng đắn, nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương. Đây chính là cơ sở tạo ra phương thức hoạt động mới; yêu cầu về tính hệ thống, thông suốt, chính xác, rõ ràng minh bạch từ các hệ thống thông tin sẽ tác động làm thay đổi phương pháp tiếp cận và phương thức tổ chức thực hiện các mục tiêu quản lý, điều hành của bộ máy hành chính.
- Có sự chỉ đạo sâu sát của các Cấp ủy Đảng, nhân tố quyết định sựthành công của tiến trình CCHC ở TP. Hồ Chí Minh : Mọi chủ trương, đường lối CCHC của Đảng và Nhà nước đều được Đảng bộ thành phố nghiên cứu, quán triệt kịp thời và đầy đủ, trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của thành phố. Đảng bộ thành phố đã thể hiện tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đi tiên phong trong CCHC, dám chịu trách nhiệm trước Đảng và trước nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, TP. Hồ Chí Minh đã tạo được những mô hình cải cách hành chính có hiệu quả, được các địa phương trong cả nước học tập, vận dụng có hiệu quả.
Những vấn đề đặt ra
Thực tiễn cho thấy, CCHC tại TP. Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, trở ngại cần được sớm khắc phục. Đã nảy sinh những vướng mắc từ cơ chế, chính sách như chưa phân cấp, phân định rành mạch trong mối quan hệ về giải quyết thủ tục hành chính và trên từng lĩnh vực giữa các ngành, các cấp; việc rà soát, bãi bỏ nhiều văn bản pháp quy, văn bản hành chính sai sót dù rất cố gắng, nhưng chưa có quy trình ra văn bản thật đúng chuẩn mực và hiện vẫn còn những quy định bất cập khác; thời gian xử lý thủ tục hành chính đã tiến bộ nhưng vẫn bị quá hạn, nhiều hồ sơ còn tồn đọng do sự phối, kết hợp giữa các cơ quan, tổ chức nhà nước chưa chặt chẽ. Mặt khác, xét cho cùng, muốn CCHC có hiệu quả, phải có một đội ngũ công chức có phẩm chất, năng lực ngang tầm với nhiệm vụ và vấn đề kèm theo là phải có cơ chế quản trị nhân sự khoa học, chế độ chính sách tuyển dụng, lương thưởng hợp lý, khuyến khích được người giỏi, động viên được mọi nguồn nhân lực.
Về những vấn đề trên đây, qua khảo sát, điều tra trực tiếp thực tiễn cũng như nghiên cứu, tổng hợp lại từ các nguồn thông tin khác nhau, chúng tôi đã nhận thấy quá trình CCHC trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong những năm vừa qua đã gặp một số khó khăn, hạn chế , cả khách quan và chủ quan sau đây:
Về khách quan, đó là nhiều văn bản quy phạm pháp luật của cấp Trung ương chậm ban hành hướng dẫn, hoặc ban hành thiếu đồng bộ, chồng chéo, trong khi nhiều luật mới hoặc bổ sung, điều chỉnh, đã được ban hành và có hiệu lực, từ đó làm cho quá trình triển khai thực hiện bị lúng túng hoặc khó khăn. Mặt khác, với đặc thù của TP. Hồ Chí Minh là thành phố lớn, trung tâm kinh tế; văn hóa khoa học công nghệ và rất năng động với các hoạt động hết sức tập trung, nhưng vẫn còn nhiều quy định quản lý, nguyên tắc tổ chức không tương thích ràng buộc. Các chế độ chính sách, nhất là tiền lương chưa thật sự tạo động lực thúc đẩy cán bộ, công chức gắn bó với công việc trong thực thi công vụ nói chung và thực hiện chương trình CCHC nói riêng. Cấp Trung ương chưa có phối hợp đồng bộ trong công tác CCHC, nhất là về thủ tục hành chính giữa các bộ-ngành chưa có sự thống nhất, phối hợp xuyên suốt trong quá trình thực hiện lĩnh vực chuyên môn.
Về chủ quan, công tác chỉ đạo thực hiện chương trình CCHC ở một số cơ quan đơn vị chưa được quan tâm chỉ đạo sâu sát, chặt chẽ, thường xuyên. Lãnh đạo một số sở-ngành, quận-huyện quan tâm chưa thật đúng mức và chỉ đạo quyết liệt đối với công tác CCHC, từ đó thiếu sự kiểm tra, đôn đốc thực hiện theo phân công, thậm chí có đơn vị gần như khoán trắng cho các bộ phận phòng ban trực thuộc. Cũng phải thắng thắn nhận thấy Ban Chỉ đạo và các thành viên Ban Chỉ đạo CCHC của các sở-ngành, quận-huyện chưa đầu tư đúng mức về thời gian, công sức, trí tuệ cho công tác CCHC theo trách nhiệm được phân công. Thêm vào đó, một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là người đứng đầu một vài cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác CCHC nên tiến độ thực hiện còn hạn chế. Kỷ luật, kỷ cương hành chính trong một bộ phận cán bộ công chức ở nhiều cơ quan, đơn vị còn lỏng lẻo, yếu kém; một số lĩnh vực công việc thực hiện còn thiếu đồng bộ, kết quả còn hạn chế hoặc vẫn còn tình trạng gây phiền hà cho tổ chức, công dân. Cộng với trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước còn hạn chế và chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của thành phố, một đô thị lớn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế trong khi đó nhận thức và chỉ đạo của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, đơn vị trong việc ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế càng làm cho việc triển khai CCHC gặp nhiều khó khăn hơn. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng tuy có nâng lên nhưng vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu quan tâm bồi dưỡng kỹ năng và xử lý tình huống trong quản lý hành chính. Tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức đôi lúc chưa làm hài lòng tổ chức và công dân; một số cơ quan đơn vị chưa kiên quyết xử lý kịp thời và nghiêm minh những cán bộ, công chức thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ. Tiến độ rà soát thủ tục hành chính còn chậm, kết quả giải quyết hồ sơ theo nhu cầu của tổ chức và công dân trên một số lĩnh vực liên quan đến nhà, đất, xây dựng, quy hoạch,… vẫn còn chậm trễ so với thời gian quy định, tỷ lệ giải quyết đúng hạn còn thấp so với các lĩnh vực khác. Quy trình, thủ tục hành chính tuy đã được rà soát, điều chỉnh, nhưng một số loại hồ sơ thủ tục vẫn còn nhiều rườm rà, phức tạp; sự phối hợp giữa các cơ quan, nhất là những lĩnh vực có liên quan đến các ngành vẫn còn thiếu đồng bộ, chặt chẽ. Thủ tục, trình tự giải quyết hồ sơ hành chính giữa các sở-ngành và quận-huyện, vẫn còn chưa thống nhất, nhất là lĩnh vực nhà, đất, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng… Còn gây phiền hà đối với tổ chức và công dân. Bộ máy hành chính các ngành đã được sắp xếp, tiếp tục kiện toàn, song vẫn còn có những mặt chưa thật sự hợp lý, từ đó chưa tạo được sức mạnh tổng hợp trong quá trình vận hành của bộ máy hành chính. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của sở-ngành vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của một đô thị lớn, tình hình hội họp vẫn chưa giảm, nội dung và chất lượng chậm đổi mới.
Thực tế triển khai CCHC cũng đã chỉ ra có một số vấn đề nổi lên cần được các ngành, các cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ sở giải quyết công việc hành chính theo nhu cầu của công dân như: Thủ tục, quy trình giải quyết một số loại hồ sơ nhất là lĩnh vực liên quan đến đất đai, nhà cửa còn phức tạp; tính liên thông “một cửa” chưa thật sự thông suốt; mối quan hệ phối hợp giữa một số ngành thiếu đồng bộ, chặt chẽ; một bộ phận cán bộ, công chức năng lực còn hạn chế; định mức khoán kinh phí quản lý hành chính đối với cấp phường còn thấp; việc sao y và lưu trữ bản sao chậm được cải tiến… Để giải quyết có kết quả một số vấn đề bất cập đó, Thành ủy, Ban Chỉ đạo CCHC của thành phố đã kiến nghị, cụ thể:
- Về thủ tục, quy trình giải quyết hồ sơ hành chính: 100% các thủ tục, quy trình hành chính liên quan đến công dân và doanh nghiệp phải được các ngành chức năng liên quan hoàn thiện việc rà soát, chuẩn hóa, mẫu hoá, công bố công khai để thống nhất thực hiện. Và để đảm bào tiến trình này, đề nghị giao cho Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Thường trực Ban Chỉ đạo CCHC thành phố tăng cường kiểm tra, đôn đốc các ngành, các cấp liên quan tập trung thực hiện đảm bảo tiến độ thời gian theo quy định.
- Về quy trình “liên thông, liên ngành” để giải quyết hồ sơ hành chính, UBND thành phố cũng đã chỉ đạo và giao trách nhiệm cho một số các ngành, các cấp thực hiện. Các sở: Tài nguyên và Môi trường; Xây dựng; Kế hoạch và Đầu tư; Quy hoạch - Kiến trúc phải hoàn chỉnh dự thảo, trình UBND thành phố xem xét, ban hành quy chế phối hợp giải quyết hồ sơ hành chính thuộc các lĩnh vực liên quan đến nhà, đất; xây dựng; đầu tư; đăng ký thành lập doanh nghiệp; quy hoạch xây dựng đô thị, theo cơ chế “một cửa” liên thông, liên ngành giữa các ngành, các cấp từ thành phố đến cơ sở. Riêng đối với quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở (sổ hồng, sổ đỏ), đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Sở Xây dựng và các quận-huyện rà soát và tham khảo ý kiến một số tổ chức, công dân để tiếp tục thực hiện đơn giản hóa thủ tục, quy trình và có sự thống nhất thực hiện giữa các quận-huyện. Các hồ sơ liên quan đến nhà, đất sau khi đã có ý kiến của UBND phường-xã, thị trấn và để được cơ quan chuyên môn của quận-huyện thẩm định về nguồn gốc và thời điểm sử dụng. Khi tính toán nghĩa vụ tài chính, ngành thuế không cần phải yêu cầu người dân trở về phường xác nhận lại những nội dung mà ngành chức năng của quận-huyện để thẩm định. Như vậy, sẽ hạn chế được việc đi lại và phiền hà đối với người dân. Đối với việc thay đổi mẫu hộ tịch như quy định tại Nghị định 158/CP theo phân cấp của hầu hết các phường là không phù hợp, thậm chí khó khăn hơn cho việc thực hiện. Đề nghị Sở Tư pháp nghiên cứu và trình Ủy ban nhân dân thành phố kiến nghị Chính phủ (Thông qua Bộ Tư pháp) để xem xét, sửa đổi cho phù hợp.
- Với khối lượng giấy tờ cần sao y hiện nay, công việc đang là áp lực khá lớn đối với UBND các phường-xã, thị trấn. Đề nghị Sở Tư pháp nghiên cứu trình Ủy ban nhân dân thành phố kiến nghị Chính phủ (thông qua Bộ Tư pháp) để xem xét, bổ sung, chỉnh sửa Nghị định 75/CP cho phù hợp, theo hướng hạn chế tối đa việc tổ chức, cá nhân phải đến cơ quan hành chính nhà nước để sao y giấy tờ khi làm hồ sơ hành chính, mà quy định đối với các cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải có trách nhiệm đối chiếu bản chính với bản photocopy hoặc các tiêu chí đã có ghi trong hồ sơ (hộ khẩu tường trú, số chứng minh nhân dân, ...) đồng thời giảm thời gian lưu trữ bản sao xuống 1 – 2 năm thay vì 5 năm hoặc chỉ cần lưu trữ một số loại bản sao giấy tờ quan trọng, thay vì lưu trữ tất cả như quy định hiện hành, hoặc thay thế việc lưu bản sao giấy bằng lưu trên máy vi tính.
- Đối với UBND các các phường-xã, thị trấn, yêu cầu đưa việc tiếp nhận và giải quyết đơn, thư khiếu nại của công dân vào thực hiện theo cơ chế “một cửa” đúng như UBND thành phố đã chỉ đạo. Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ hành chính công theo yêu cầu của tổ chức, công dân tại các đơn vị cơ sở, đề nghị UBND các quận-huyện chú trọng đầu tư các nguồn lực, tạo điều kiện cho các phường-xã, thị trấn đẩy mạnh hơn nữa việc ứng dụng công nghệ thông tin. UBND các cấp cũng phải tổ chức thường xuyên việc khảo sát sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp, bằng nhiều hình thức thích hợp với số lượng hợp lý đủ bảo đảm đại diện cho số đông những người thụ hưởng dịch vụ hành chính công do phường-xã, thị trấn cung cấp, và với các tiêu chí cần thiết ... nhằm bảo đảm sự khách quan, trung thực của các chỉ số đánh giá, tránh hình thức.
Tóm lại, quá trình CCHC của TP. Hồ Chí Minh đã được tiến hành từ khi có chủ trương của Đảng (Nghị quyết Trung ương 8, Khóa VII), chỉ đạo của Chính phủ (Nghị quyết 38/CP) đến nay đã đi được những chặng đường ban đầu, đạt được một số thành tựu đáng khích lệ, vừa mang tính khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn, đúng với mục tiêu đặt ra, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách một bước nền hành chính Nhà nước, phù hợp với nguyện vọng và lòng dân, được xã hội đồng tình. Không thể phủ nhận được những kết quả của CCHC đã góp phần tích cực vào việc tạo nên những phát triển về kinh tế - xã hội của thành phố thời gian qua nhưng cũng phải nghiêm túc nhận thấy rõ những khó khăn nảy sinh, thậm chí cả những hạn chế, bất cập do chính những yếu kém từ chủ quan yếu tố con người trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp làm công tác hành chính và CCHC trong thực tiễn triển khai. Từ đó TP. Hồ Chí Minh sẽ có những điều chỉnh kịp thời và kiến nghị lên cấp trên cao nhất là Trung ương, Chính phủ để kịp thời có cơ chế, chính sách với các giải pháp khắc phục, điều chỉnh cho phù hợp hơn, đưa lại hiệu quả CCHC thực sự bền vững như đã được Thành phố xác định trong nhiệm vụ, mục tiêu của CCHC giai đoạn 2006 - 2010 là:Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa; hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển thành phố. Đến năm 2010, hệ thống hành chính của thành phố về cơ bản đã được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Nhóm PV tại TP Hồ Chí Minh
Theo website cpv.org.vn
|
06/05/2008 |
|
|
|
Các tin đã đưa |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Về đầu trang
|
| | |