English    Trang chủ    Sơ đồ trang    Diễn đàn  
Mở rộng hay thu hẹp phạm vi cán bộ, công chức cấp xã
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức được UBTVQH thông qua ngày 29.4.2003 đã bổ sung cán bộ, công chức cấp xã vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh. Kể từ đó cán bộ, công chức của nước ta có ở 4 cấp: xã, huyện, tỉnh và trung ương.

Cụ thể hóa quy định của Pháp lệnh về cán bộ, công chức cấp xã, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2003/NĐ-CP và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã phường, thị trấn. Theo đó, cán bộ, công chức cấp xã bao gồm những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (Bí thư, Phó bí thư , Thường trực Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND; Trưởng các đoàn thể Mặt trận, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh) và những người giữ chức danh chuyên môn nghiệp vụ (Trưởng công an, Trưởng chỉ huy quân sự, Văn phòng – Thống kê, Địa chính – Xây dựng; Tài chính – Kế toán, Tư pháp – Hộ tịch, Văn hoá - Xã hội); tùy theo số dân và địa bàn mỗi xã được định biên từ 17 đến 25 cán bộ, công chức.

Sau 5 năm thực hiện Pháp lệnh, theo thống kê đến nay cả nước có khoảng trên 200.000 cán bộ, công chức cấp xã. Tuy nhiên, qua khảo sát tại một số địa phương cho thấy, xu hướng “phình biên chế” cán bộ, công chức cấp xã và “hành chính hóa” đối với hoạt động của các tổ chức xã hội ở cơ sở đang là tình trạng cần được quan tâm. Bởi vì, hiện nay ở cấp xã có rất nhiều loại hình đối tượng được hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước. Trước hết, đó là đội ngũ cán bộ chuyên trách xã (những người đứng đầu cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể) và công chức xã (những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ); những người này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và thực hiện chế độ bảo hiểm. Ngoài ra, còn có một số chức danh cán bộ không chuyên trách (theo thống kê có khoảng hơn 500.000 người ở cấp xã được hưởng phụ cấp hoặc khoán kinh phí hoạt động có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước) như cấp phó một số đoàn thể; tổ trưởng, tổ phó tổ dân phố, trưởng thôn, ấp, bản... Bí thư, Phó bí thư chi bộ thôn, Công an viên, tổ hòa giải... Đội ngũ này hiện nay rất đông, có xã lên đến trên dưới 200 người. Tùy theo điều kiện kinh tế của từng địa phương thì HĐND cấp tỉnh quyết định số lượng cán bộ không chuyên trách và quy định mức phụ cấp đối với từng chức danh cụ thể. Ngoài ra, ở cơ sở còn đội ngũ cộng tác viên thực hiện một số nhiệm vụ của một số bộ, ngành như cộng tác viên về y tế, trợ giúp pháp lý; Một số địa phương có chức danh cán sự xã hội...

Về phạm vi cán bộ, công chức cấp xã, qua khảo sát, nhiều địa phương đề nghị mở rộng thêm đối tượng được coi là cán bộ, công chức cấp xã như Phó chỉ huy quân sự, Phó trưởng công an, Chánh văn phòng Đảng ủy, Chánh văn phòng UBND, cấp phó của các ban, ngành, đoàn thể, Trưởng thôn, cán bộ làm công tác thương binh – xã hội... Bên cạnh đó, cũng có ý kiến đề nghị giữ nguyên hoặc thu hẹp số lượng cán bộ, công chức cấp xã để tránh tình trạng bộ máy cấp xã quá cồng kềnh như hiện nay.

Hiện nay, ở nước ta có trên mười nghìn đơn vị hành chính cấp xã và trên 110.000 thôn, làng, bản, ấp... vì vậy, chỉ tăng một biên chế cho cấp xã theo đề nghị của một số ý kiến thì sẽ tăng hơn 10.000 cán bộ, công chức, nếu tăng thêm ở mỗi thôn một định suất cán bộ không chuyên trách (như Trưởng thôn) thì sẽ tăng hơn 110.000 người được hưởng phụ cấp. Theo hướng này thì nguồn ngân sách chi cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hàng năm là không hề nhỏ. Thực tế cho thấy, việc đưa cán bộ, công chức cấp xã vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh và chỉ giới hạn đối với một số chức danh nhất định thì số lượng cán bộ, công chức cấp xã đã bằng số lượng công chức hành chính ở cả ba cấp trung ương, tỉnh và huyện; Điều này có nghĩa là tổng số công chức hành chính trên toàn quốc từ cấp xã lên Trung ương đã tăng gấp đôi. Có thể nói, việc tăng đột biến số lượng cán bộ, công chức trong thời gian qua là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho chủ trương tinh giản biên chế trên thực tế không thực hiện được và cũng làm cho cải cách hành chính và cải cách chế độ tiền lương cho cán bộ, công chức gặp nhiều khó khăn.

Để giải quyết vấn đề mở rộng hay thu hẹp phạm vi cán bộ, công chức cấp xã cần phải thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X, đó là “Xây dựng hệ thống chính sách phù hợp và đồng bộ đối với cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn theo hướng: một số chức danh cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn cần và có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Chính phủ thì được xem xét chuyển thành công chức nhà nước để tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp; Các chức danh cán bộ, công chức khác không đủ điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành công chức nhà nước thì thực hiện theo chế độ hiện hành, khi được giữ chức vụ do bầu cử thì hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm và thực hiện chế độ bảo hiểm, khi thôi đảm nhiệm chức vụ thì thôi hưởng phụ cấp và đóng bảo hiểm tự nguyện. Cán bộ không chuyên trách thì thực hiện theo hướng khoán kinh phí hoạt động và đóng bảo hiểm tự nguyện. Chính phủ quy định khung số lượng và khung mức phụ cấp để các địa phương thực hiện phù hợp với tình hình cụ thể”.

Mặt khác, cần khuyến khích các tổ chức ở cơ sở hoạt động theo hướng tự nguyện làm công tác xã hội.

Thể chế hóa chủ trương nói trên của Đảng trong Luật Cán bộ, công chức, theo chúng tôi trong dự án Luật Cán bộ, công chức cần có một chương riêng về cán bộ, công chức cấp xã. Trong đó quy định 3 nhóm cán bộ, công chức cấp xã, cụ thể là: Nhóm cán bộ được bầu cử, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ; Đối tượng này hưởng lương từ NSNN, được thực hiện chế độ bảo hiểm khi giữ chức vụ. Nhóm thứ hai là công chức được tuyển dụng làm công tác chuyên môn (phải qua thi tuyển hoặc một số trường hợp được xét tuyển như đối với người dân tộc thiểu số, người ở vùng sâu, vùng xa hoặc đối tượng chính sách xã hội), nhóm đối tượng này là công chức thuộc cấp huyện quản lý nhưng làm việc ở xã; Được xếp ngạch, bậc theo trình độ chuyên môn và vị trí việc làm. Nhóm thứ ba là những người hoạt động không chuyên trách được hưởng phụ cấp; Số lượng cũng như mức phụ cấp tối thiểu và tối đa đối với nhóm này giao Chính phủ quy định nhằm bảo đảm thực hiện thống nhất. Trên cơ sở đó, HĐND cấp tỉnh xem xét, quyết định cụ thể căn cứ vào đặc điểm địa bàn, mức độ công việc và điều kiện của từng địa phương.

Về phạm vi cán bộ, công chức cấp xã, có ý kiến cho rằng thực tế cho thấy trong một thời gian dài trước khi đội ngũ này được quy định là cán bộ, công chức cơ sở (năm 2003) thì mọi công việc và hoạt động cấp xã vẫn bảo đảm theo đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Để tránh xu hướng công chức hóa chính quyền cơ sở, loại ý kiến này đề nghị áp dụng chế độ tự quản đối với chính quyền cơ sở theo hướng khoán kinh phí hoạt động và có các quy định bảo đảm chính quyền và cán bộ, công chức ở cấp cơ sở hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

Nguyễn Thế Duy
Theo nguoidaibieu.com.vn


10/09/2008

Phiên bản in  Phiên bản in    Gửi bài viết Gửi bài viết

  Các tin đã đưa
Cán bộ trẻ ở TP Hồ Chí Minh (05/09)
Khai giảng lớp tiếng anh Apollo danh cho cán bộ công chức (29/08)
Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (25/08)
Về vệc phụ cấp đối với cán bộ, công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của tỉnh Hậu Giang (21/08)
Nét mới trong chính sách tuyển dụng công chức, viên chức (21/08)
16.000 công chức bỏ việc-đã vượt xa "sự đáng quan tâm" (12/08)
Chọn nhân sự theo chỉ số IQ, EQ, ai dám? (10/08)
Hà Nội có 102.777 chỉ tiêu biên chế hành chính, sự nghiệp (10/08)
Đào tạo kỹ năng cho cán bộ làm nhân sự: Bớt lý thuyết giáo điều và tăng tính ứng dụng (03/08)
Hoà Bình: Chuyển biến trong công tác cán bộ ở Lạc Sơn (03/08)
  Về đầu trang
Tạp chí Tổ chức Nhà nước số tháng 6 năm 2008
Thông tin Cải cách nền hành chính Nhà nước số tháng 7/2008