Những tác động lớn trong các “kịch bản” được đưa ra để xem xét kinh tế Việt Nam thời “hậu WTO” mà Nhóm nghiên cứu thuộc Khoa Kinh tế, trường Đại học Copenhagen (Đan Mạch) thực hiện không phải từ thuế quan như nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tính đến, mà chính là những chính sách liên quan đến thương mại và đầu tư. Đặc biệt, các vấn đề liên quan đến cải cách luật pháp, trong đó trọng tâm là các hợp đồng, và quyền sở hữu tài sản, sự đối xử công bằng, minh bạch giữa các doanh nghiệp (DN), các mối quan hệ với nhà cung cấp, những yêu cầu về sở hữu trí tuệ, “vốn con người” và tình trạng di chuyển lao động được Nhóm nghiên cứu của Tiến sỹ Philip Abbott cho là những ưu tiên chính đối với Việt Nam sau khi nhóm này mô hình hoá những tác động của các hiệp định đa phương và song phương mà Việt Nam tham gia.
Theo nghiên cứu của Tiến sỹ Philip Abbott, mỗi lần Việt Nam ký kết một hiệp định thương mại thì hoạt động thương mại lại có sự tăng trưởng mạnh mẽ. “Xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt thấp trong trường hợp Việt Nam tham gia vào ASEAN vì sự tương đồng về hàng hoá nên không khai thác được lợi thế so sánh. Còn lại, các thời điểm Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại với EU vào năm 1992, rồi tiếp theo là Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, các hiệp định thương mại song phương với Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…đều là những điểm bắt đầu cho thời kỳ tăng tốc mới của xuất khẩu Việt Nam sang các thị trường này”, ông Philip Abbott phân tích và lý giải rằng, đây là kết quả của quá trình cải cách thể chế ngày càng được thực hiện liên tục hơn.
Có một điểm có thể nói là khá tương đồng trong nhận định giữa các nhà nghiên cứu, đó là tác động rất lớn và lan toả từ sự cải thiện hệ thống chính sách của Việt Nam. Trong nghiên cứu về một số “kịch bản” cho chính sách thương mại Việt Nam do ông David Vanzetti (Trường đại học Australia) và bà Phạm Lan Hương (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – CIEM) thực hiện, thì với “kịch bản” Việt Nam đơn phương tự do hoá, đơn phương tiến hành những cải cách chính sách, loại bỏ những thuế nhập khẩu, xuất khẩu, các trợ cấp…mà không cần phải đàm phán với các nước khác, lợi ích đạt được là rất lớn. Bà Lan Hương cho rằng, chính lợi ích đạt được thông qua các phương pháp tính là tối đa hoá phúc lợi hàng năm (khoảng 4,7 tỷ USD), tăng xuất khẩu (khoảng 8,6 tỷ USD)…này chứng minh sự tự cải thiện chính sách của Việt Nam là rất cần thiết. “Tất nhiên”, ‘kịch bản’ trên khó có thể xảy ra trong tương lai gần. Thực tế hơn vẫn là ‘kịch bản’ tự do hoá khu vực và tự do hoá đa phương. ‘Kịch bản’ tự do hoá khu vực cho lợi ích xuất khẩu lớn hơn, còn “kịch bản” kia cho lợi ích phúc lợi lớn hơn”, bà Lan Hương nói.
Đồng tình với quan điểm này, ông Võ Trí Thành, Trưởng ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế (CIEM) cũng cho rằng, thực tiễn của Việt Nam là sẽ đồng thời phải thực hiện các hiệp định đa phương và song phương đã ký kết và như vậy, tác động thực tế sẽ phức tạp và phức tạp hơn rất nhiều. Cụ thể, ở “kịch bản” thương mại đa phương, trong đó giả thiết hàng rào thuế quan và các biện pháp hỗ trợ giảm 50% ở các quốc gia thành viên WTO, các nhà nghiên cứu đưa ra những tính toán định lượng rằng, tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu sẽ tăng khoảng 21%, nhưng lợi ích tập trung nhiều vào quan hệ với Liên minh Châu Âu từ việc tăng nhập khẩu hàng dệt từ Việt Nam. Lĩnh vực có mức tăng lớn về xuất khẩu so với năm gốc 2001 là dệt (tăng 75%), may (44%), hoá chất (41%), sản phẩm gỗ và giấy (39%), gạo (16%)…Các mặt hàng bị giảm về sản lượng xuất khẩu là sản phẩm từ dịch vụ kinh doanh (18%), dịch vụ khác (13%), chăn nuôi (7%), cây trồng (8%), thuỷ hải sản (2%)…Về nhập khẩu, trong “kịch bản” này thì Trung Quốc, Đài Loan và Liên minh Châu Âu là những đối tác cung cấp mới của Việt Nam. Trong “kịch bản” này, sự thay đổi trong phân bổ lại nguồn lực diễn ra mạnh nhất ở dệt may, hoá chất, dịch vụ…
Báo Đầu tư ngày 10-7-2006
|
11/07/2006 |
|
|
|
Các tin đã đưa |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Về đầu trang
|
| | |