Tuy đạt được sự thống nhất khá cao trong mục tiêu của dự thảo Nghị định về quản lý nhà nước đối với giấy phép kinh doanh (GPKD) là tạo ra một cơ chế kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả đối với quy trình xây dựng, ban hành và thực thi quy định về GPKD, song mô hình Hội đồng quốc gia (HĐQG) về GPKD mà Ban soạn thảo đưa ra lại đang vướng phải khá nhiều ý kiến khác nhau.
Điều đáng nói là, chính cơ chế hoạt động kém hiệu quả của khá nhiều hội đồng trong thực tế đã tạo ra nhiều ý kiến chưa thống nhất. Và như vậy, có thể thấy, vấn đề cần được làm rõ không phải là có hay không HĐQG về GPKD, mà chính là xác định cơ chế hoạt động hiệu quả cho mô hình này.
Cần phải nói rằng, những phản hồi không mấy tích cực về chất lượng của hệ thống GPKD từ phía cộng đồng doanh nghiệp (DN) và xã hội trong bối cảnh số lượng các loại giấy phép tăng lên nhanh chóng (trung bình 1 tuần 1 giấy), đã gây áp lực rất lớn trong việc tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi đối với những nhà hoạch định chính sách khi xây dựng cơ chế quản lý nhà nước về GPKD. Áp lực ở đây có thể thấy là từ cả hai phía cộng đồng DN lẫn cơ quan quản lý nhà nước, song dường như áp lực mạnh hơn lại được tạo ra từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.
Ông Vũ Duy Thái, Tổng thư ký Hiệp hội Công thương Hà Nội, cho biết, các DN thực sự trông đợi vào bộ máy giám sát với 50% thành viên là đại diện từ các hiệp hội DN. Tuy vậy, cũng từ góc nhìn này, hai điều ông “sợ” khi tính đến mô hình HĐQG về GPKD trong dự thảo Nghị định này là có được các cơ quan quản lý nhà nước chấp nhận không khi thói quen “hỏi ý kiến” trong việc xây dựng văn bản pháp luật của các cơ quan này chưa trở thành thông lệ và hoạt động của nhiều hội đồng hiện nay là “rất yếu và mờ nhạt”. “Tuy nhiên, nếu không có HĐQG thì không có bộ máy để thực thi mục tiêu của Nghị định này. Theo tôi, cần phải có HĐQG với tỷ lệ phần trăm là đại diện của hiệp hội ngành nghề, DN... cao hơn để đủ tạo động lực và cả gây áp lực cho bộ máy giám sát. Hơn thế, các DN “nhìn ra” rất nhanh những gì không hợp lý trong những quy định về GPKD so với thực tiễn cuộc sống”, ông Thái nói.
Thực ra, chính yếu tố hợp lý của các điều kiện về GPKD đang là “lỗ hổng” được coi là khó kiểm soát nhất trong quy trình xây dựng, thẩm định, thẩm tra của các cơ quan quản lý nhà nước. Khi tham gia ý kiến về nội dung này, các chuyên gia từ Bộ Tư pháp và các luật gia đều có quan điểm chung là quy trình được quy định trong hệ thống văn bản pháp luật về ban hành văn bản chưa đề cập đến tính hợp lý (bên cạnh tính hợp pháp, hợp hiến); chưa có phản biện khách quan và độc lập, mà chủ yếu thực hiện trong nội bộ cơ quan nhà nước và đặc biệt là, quy định về giám sát, đánh giá khách quan cả quy trình, trình tự thủ tục văn bản quy phạm pháp luật chưa thực sự được thực hiện. Hơn thế nữa, ngay với những quy định hiện hành về thẩm quyền và trách nhiệm của các bộ, ngành; những quy định về tố quyền của người dân tuy đều có, nhưng lại không thực sự phát huy tác dụng thực tiễn vận hành của hệ thống GPKD.
Với đánh giá này, khi “soi” vào bản chất của GPKD là công cụ quản lý của Nhà nước đối với DN, thì hệ luỵ với môi trường kinh doanh là không nhỏ. Ông Thái còn cho rằng, do cách làm việc tắc trách nên một số cơ quan công quyền đưa ra điều kiện kinh doanh để rồi sau đó buộc phải thu hồi lại các văn bản của mình ký đã làm tổn hại đến uy tín của cả bộ máy công quyền, chứ không đơn thuần là chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của DN.
Tuy nhiên, nếu như mô hình HĐQG không có được sự độc lập đủ mạnh, có quyền hạn đủ lớn và những thành viên đủ tính chuyên nghiệp trong trách nhiệm theo dõi, giám sát, đánh giá việc ban hành và thực hiện các quy định về GPKD nhằm đảm bảo tính hợp lý, minh bạch, hiệu lực của GPKD trong quản lý nhà nước, thì những lo ngại về một cơ chế hội đồng không hiệu quả là hoàn toàn có cơ sở. Ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng Ban Pháp chế (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam- VCCI) cho rằng, vị trí của HĐQG có lẽ nên ngang hàng với các cơ quan quản lý nhà nước, độc lập với Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ, để có thể tạo nên đối trọng nhất định trong cơ chế giám sát quy trình ban hành văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước.
Đặc biệt, mô hình này với đa phần là đại diện của DN, hiệp hội ngành nghề và cán bộ, công chức kiêm nhiệm sẽ hoạt động theo cơ chế không có lương (trừ bộ phận thư ký). Có nghĩa là, băn khoăn về việc “đẻ” thêm bộ máy ăn lương nhà nước sẽ được giải toả. Tuy vậy, thêm một dấu hỏi đặt ra là, vậy động lực nào có thể thúc đẩy các thành viên, đặc biệt là các cán bộ, công chức nhà nước, làm việc hết trách nhiệm và nghĩa vụ của mình và các đại diện là DN có đủ uy tín để tạo ra tiếng nói mạnh hay không...
Báo Đầu tư ngày 17/05/2006
|
18/05/2006 |
|
|
|
Các tin đã đưa |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Về đầu trang
|
| | |